crossorigin="anonymous">

Văn hóa Việt Nam với kiến trúc nhà ở

CLIX xin trân trọng giới thiệu đến quý độc giả bài viết Văn hóa Việt Nam với kiến trúc nhà ở.

khái niệm nhà trong tiếng Anh (house), tiếng Pháp (maison), tiếng Ý (casa) có mục đích chung là dùng để chỉ một thực thể vật chất là nơi sinh sống của con người; trong đó kiến ​​trúc luôn gắn với các vấn đề về bản sắc thị giác và bản sắc văn hóa. đối với người Việt, ngôi nhà không chỉ là nơi che mưa che nắng mà còn là biểu tượng của tinh thần gia đình, là “ngôi đền” của tổ tiên thờ cúng con cháu, là một dạng tài sản riêng có thể mang tính tôn giáo. Có lẽ vì vậy mà người Việt Nam rất mong muốn có một ngôi nhà và muốn ngôi nhà của họ tiếp tục được truyền lại cho con cháu. bài viết mong muốn làm rõ hơn quan niệm nhà ở của người Việt xưa, chỉ ra những giá trị cốt lõi của “nếp nhà”, “đình” cần được gìn giữ trong “kiến trúc nhà ở” gắn với bản sắc văn hóa. Nhà hóa học Việt Nam.

Đặc điểm văn hóa Việt Nam

nếu văn hóa động là đặc trưng của xã hội phương Tây, thì văn hóa tĩnh mạnh mẽ là giá trị độc đáo của các nước phương đông trong đó có Việt Nam. Ở phương Tây, chủ nghĩa cá nhân và tư duy phân tích đã buộc mọi người phải nhất quán với chính mình. Trong khi đó, người Việt Nam có đặc điểm là linh – dương, một sự kết hợp kỳ diệu với ổn định – âm. Cụ thể, người dân Việt Nam có quyền làm chủ toàn diện, thể hiện ở khả năng bao dung và quan hệ tốt, cũng như trong dòng chảy văn hóa tiếp nhận đồng thời nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau nhưng có sự tổng hợp của tất cả các tín ngưỡng, học thuyết để hình thành tôn giáo của riêng họ; Đặc điểm của người Việt còn thể hiện rõ trong quá trình chống giặc ngoại xâm: nếu phương Tây có nền văn hóa tích cực – du mục, thì chiến tranh là nhiệm vụ của quân đội và nhân dân; Trong văn hóa tiêu cực, Việt Nam luôn gắn liền với những khái niệm “chiến tranh nhân dân”, “thổ công, nông dân”, “thù trong giặc ngoài”, “thánh gióng”, v.v. người dân tham gia đánh giặc, đây là nét đặc trưng của văn hóa nông nghiệp. Những dẫn chứng trên giúp làm rõ văn hóa Việt Nam mang tính tĩnh – âm rất mạnh.

khái niệm về thị tộc và dòng họ

Với bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa 4000 năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam luôn gắn liền với một nền văn hóa nông nghiệp, trong đó những giá trị vật chất quan trọng luôn được trân trọng – là đất và nhà. Với đặc trưng văn hóa đó, người Việt cổ rất coi trọng thị tộc và chia thành hai cấp: một nhà – một gia đình nhỏ, bao gồm: vợ chồng, cha mẹ, con cái; thứ hai là gia đình – đại gia đình, bao gồm nam và nữ có cùng một tổ tiên sinh ra, bao gồm cả người chết và người sống [5, tr95]; kế thừa trong gia đình cũng có hai thứ: một là kế thừa truyền thống tôn sư trọng đạo (nghĩa là trong tế tổ tiên – dưới huyết thống); thứ hai là thừa kế, tức là thừa kế tài sản do cha mẹ đã chết để lại. Với những quan niệm đó, bổn phận của gia đình đối với xã hội Việt Nam xưa rất nặng nề. do đó, người Việt luôn coi việc xây dựng nhà ở, nơi ở của các gia đình nhỏ và đại gia đình là một công việc quan trọng và chủ yếu trong đời sống của nhân dân và thị tộc. Người Việt lo tất cả các khâu trong việc làm nhà: chọn ngày, tháng tốt, hợp tuổi người làm lễ; tránh làm điều xấu hoặc chọn sai ngày; luôn cầu may mắn cho từng kịch bản, kích thước, chất liệu, màu sắc … để dựng.

XEM THÊM:  Cách đi, cách phanh xe đạp fixed gear

Trong suốt lịch sử phát triển của dân tộc, xã hội Việt Nam luôn gắn liền với đời sống nông thôn và sinh hoạt nông nghiệp, từ thời Pháp thuộc, văn hóa Việt Nam tiếp thu mạnh mẽ các giá trị Việt từ văn hóa pháp luật. thời kỳ sau cách mạng tháng Tám và cuối cùng là thời kỳ sau đổi mới (1986) đến nay, gắn với hội nhập và hợp tác quốc tế, các nhóm tiểu thương, nghệ nhân dần tách khỏi nông thôn, tách khỏi chúa đất, là tiền đề cho sự hình thành các thị trấn nhỏ rải rác tương đối độc lập ở Việt Nam. Với việc hình thành các khu đô thị, sự gia tăng nhanh chóng của dân số khu vực nông thôn đã làm thay đổi các giá trị văn hóa của đô thị. hệ giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam cũng chịu sự chuyển đổi mạnh mẽ từ không gian nông thôn ra thành thị, đồng thời với tác động của kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước làm cho sự phân bố của các ngành nghề trở nên đa dạng, giá trị vật chất. Thịnh hành, áp đảo các nhu cầu văn hóa.

do đó, quan niệm về gia đình của người Việt Nam đã dần thay đổi. nếu trước đây dân cư nông thôn làm việc trong gia đình theo cơ chế tự cung tự cấp; giờ đây, họ làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp theo cách thức khoa học và có kế hoạch. Trước đây, phụ nữ chỉ gắn bó với trách nhiệm chăm sóc gia đình thì nay họ tham gia mọi hoạt động xã hội. nếu như trước đây văn hóa Việt Nam luôn đề cao, bảo tồn và đề cao những giá trị của nếp sống đại gia đình – “tứ đại đồng đường” thì nay dần chia cắt thành nhiều gia đình nhỏ. Đây là một trong những điểm mấu chốt để thay đổi quan niệm về nhà trong văn hóa và xã hội Việt Nam.

kiến ​​trúc nhà ở truyền thống

Trong quá trình xây dựng không gian sống của mình, bằng sự khéo léo của bàn tay và khối óc, con người đã tạo ra một không gian sống thích ứng với điều kiện tự nhiên, mỗi công trình nhà ở đều phản ánh sự hiểu biết của con người về mối quan hệ giữa hình thức và công năng. những hình thái có sẵn trong tự nhiên luôn là hình mẫu lý tưởng để con người tham khảo cho một mục đích cụ thể. Có lẽ vì vậy mà kiến ​​trúc nhà ở của người Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ của điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và hình thành nên kiến ​​trúc địa phương: người Việt thường chọn những vùng đồng bằng có nhiều bùn và nước, có điều kiện thích hợp để canh tác và trang trại gia súc , sử dụng các vật liệu có sẵn trong tự nhiên. Về nhà ở, có thể chia làm ba loại: nhà nghèo lợp tranh, vách đất, sàn thấp, kèo tre; tốt hơn hết, hãy xây những ngôi nhà bằng gỗ, lợp tranh, lợp tranh, v.v., tường lợp bằng rơm, đất hoặc ngói; người giàu sang thì làm nhà bằng gỗ chạm trổ (lim, jaca, kiền kiền …), mái ngói, tường gạch, nền gạch … về công năng, người nghèo xây nhà một gian, hai chái, ba gian. các ngăn hẹp. , còn loại trung và giàu có ba ngăn và hai chái, hoặc năm ngăn và hai chái. Tất cả những ngôi nhà này thường được bố trí quay mặt về hướng Nam theo điều kiện khí hậu Việt Nam. Trong lịch sử phát triển đô thị Việt Nam, vai trò của nhà liên kế những năm gần đây đã hình thành nên một nét riêng trong kiến ​​trúc đô thị Việt Nam. kiểu nhà này là hiện thân tuyệt vời cho tư duy linh hoạt và thực dụng của cư dân đô thị Việt Nam: vừa để ở, vừa để kinh doanh sinh lời.

XEM THÊM:  Cách tải và sử dụng cyberlink youcam chụp, quay video màn hình chi tiết

xu hướng phát triển nhà ở hiện nay

Trong điều kiện xã hội hiện đại, xu hướng phổ biến dần thay đổi từ phương thức sống theo kiểu đại gia đình huyết thống sang căn hộ độc lập – gia đình nhỏ (vợ chồng trẻ và con nhỏ). quan niệm coi trọng đất đai – nhà ở để tạo dựng di sản và để lại cho con cháu vẫn tồn tại, nhưng đã dần “mềm yếu” trong đời sống xã hội Việt Nam. Cho đến nay, các đô thị Việt Nam có 3 loại hình nhà ở phổ biến: nhà biệt thự, biệt lập không gian sân vườn rộng bao quanh hoặc trước sau; nhà phố – nhà phố mặt tiền sát đường và nhà ở dạng căn hộ. Ba loại nhà ở, dựa trên diện tích, tiện nghi, vật liệu xây dựng và vị trí, được đánh giá ở các giá trị khác nhau. trong đó, loại hình nhà ở dạng phố – liền kề, gắn với trục lưu thông tiếp tục là xu hướng chủ đạo trong quá trình trang trí và quy hoạch đô thị. cho đến khi đô thị phát triển, đặc biệt là các thành phố lớn, mật độ dân số ngày càng tăng, nhu cầu nhà ở ngày càng trở nên cấp thiết thì hình thức nhà ở chung cư trở thành xu hướng phát triển tất yếu của các khu đô thị thị trường hiện đại. Singapore đã cung cấp nhà ở đầy đủ tiện nghi cho 86% người dân với 775.550 căn hộ kể từ năm 1966, và gần đây Việt Nam cũng bắt đầu quan tâm đến việc thúc đẩy và phát triển loại hình nhà ở này.

XEM THÊM:  Xôi bảy màu - Cầu vồng 7 sắc của ẩm thực Sapa

tuy nhiên, kiểu nhà chia lô được cho là chiếm ưu thế, phù hợp với bối cảnh hiện nay và rất khó thay đổi, nguyên nhân là do: tập quán nhà ở gắn liền với đất là tài sản có giá trị lớn có thể để lại cho con cháu. và các cháu; tâm lý thích sự riêng tư; dễ dàng và chủ động trong việc xây dựng thêm, cơi nới, chuyển đổi công năng (chuyển sang kinh doanh, cho thuê…), đặc biệt là chủ động về phong thủy… trong khi căn hộ dạng chung cư dù có những ưu điểm nhất định như giá bán, diện tích, công năng sử dụng hợp lý. , có không gian cảnh quan với các thiết chế văn hóa, giải trí phục vụ cộng đồng, khoảng cách di chuyển, điều kiện phục vụ, chăm sóc y tế thuận lợi … nhưng chưa được cư dân đô thị Việt Nam quan tâm nhiều.

kết luận chung

Dù nhà ở của người Việt Nam đã thay đổi trong điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay nhưng quan niệm về nếp nhà vẫn được bảo tồn và di sản tôn sư trọng đạo, di sản nhà ở vẫn luôn được người Việt Nam quan tâm. . trong điều kiện không gian hạn chế của đô thị (mật độ dân số cao, quỹ đất hạn hẹp), nhà phố đang chiếm ưu thế, nhưng căn hộ – chung cư sẽ là xu hướng phát triển tất yếu. do đó, để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong các căn hộ dạng chung cư như chất lượng, hình thành ý thức, thói quen của người dân trong việc sử dụng các tiện ích chung … và khai thác đặc điểm của nhà liền kề để thiết kế, sáng tạo nội thất. -không gian kiến ​​trúc ngoại thất của căn hộ. từ đó bố trí vị trí căn hộ theo nhu cầu của người sử dụng, phát huy tối đa công năng sử dụng … mục này sẽ giúp người Việt đô thị từng bước hình thành nếp sống và phong cách nhà ở phù hợp với điều kiện phát triển đô thị hiện nay.

Vì vậy, mỗi kiến ​​trúc sư khi thiết kế và xây dựng căn hộ, nhà ở cần hiểu rõ phong cách và ý tưởng nhà ở của các gia đình nhỏ của người Việt để từ đó lựa chọn giải pháp thiết kế không gian kiến ​​trúc phù hợp với lối sống hiện đại và bối cảnh kinh tế xã hội của người Việt. đó cũng là cách để giữ gìn bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam.

ts. nhân viên an ninh thắt nút, ths. hs. trần văn tam

(bài trên tạp chí kiến ​​trúc số 7/2017)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *